Đề thi thử vào lớp 10 môn Văn - THCS Nghĩa Trung 2017

Đề thi thử vào lớp 10 môn Văn của trường THCS Nghĩa Trung, huyện Nghĩa Đàn năm học 2017 - 2018 có đáp án chi tiết.

PHÒNG GD & ĐT HUYỆN NGHĨA ĐÀN

TRƯỜNG THCS NGHĨA TRUNG

 ĐỀ THI THƯ TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT

NĂM HỌC : 2017-2018                                                                           MÔN: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 p (Không kể thời gian giao đề)

-------------------------------------------------------------------------------------------------

 Phần I (2,5 điểm)

            Cho đoạn trích

   "Con bé thấy lạ quá, nó chớp mắt nhìn tôi như muốn hỏi đó là ai, mặt nó bỗng tái đi,rồi vụt chạy và kêu thét lên : "Má! Má!". Còn anh, anh đứng sững lại đó, nhìn theo con,nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy"

(Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục 2009, tr.196) 

1. Đoạn trích trên được rút ra từ tác phẩm nào, tác giả ai ?

2. Phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích?

3. Kể tên hai nhân vật được người kể chuyện nhắc tới trong đoạn trích.?

4. Xác định thành phần khởi ngữ trong câu : " Còn anh, anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuốn như bị gãy 

Phần II :

Câu 1: (2.5 điểm)

Biển cho ta cá như lòng mẹ

Nuôi lớn đời ta tự buổi nào

(Huy Cận, Đoàn thuyền đánh cá, Ngữ văn 9, tập1, NXB GD, 2011, trang 140) Từ hai câu thơ trên, em hãy viết một đoạn văn ( hoặc bài văn ngắn) với nội dung: Biển như lòng mẹ

Câu 2 (5,0 điểm).

Cảm nhận của em về tình cảm của nhân vật ông Sáu dành cho con trong trích đoạn Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng.

Đáp án đề thi thử vào lớp 10 môn Văn - THCS Nghĩa Trung 2017

Phần I (2,5 điểm) 

Câu 1: Thí sinh nêu đúng:

- Tên tác phẩm: Chiếc lược ngà                                                                  0,5 điểm

- Tên tác giả: Nguyễn Quang Sáng                                                    0,5 điểm

Câu 2: PTBĐ chính: Tự sự                                                                     0,5 điểm

Câu 3  Tên 2 nhân vật được nhắc tới: anh Sáu, bé Thu                    0,5 điểm

Câu 4:  Thành phần khởi ngữ: Còn anh, anh                                               0,5 điểm 

Phần II

Câu 1: (2,5 đ)
a.Yêu cầu về kĩ năng:
- Nắm vững phương pháp làm bài nghị luận xã hội
- Biết vận dụng, phối hợp nhiều thao tác nghị luận: giải thích, chứng minh, bình luận…
- Văn trôi chảy, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục. Không mắc lỗi diễn đạt, không sai lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp, trình bày bài rõ ràng.
b.Yêu cầu về nội dung, kiến thức:
- Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: biển đối với đời sống con người có một vai trò hết sức quan trọng và to lớn. Trong tâm thức người Việt, biển là đất nước, là cuộc sống.(0,5đ)
- Bàn luận: (0,5đ)
+ Biển cả đối với con người thật ấm áp, như người mẹ hiền chở che, nuôi nấng con người lớn lên, bao bọc con người với một tình cảm trìu mến, thân thương.
+ Biển đem lại cho chúng ta nhiều nguồn tài nguyên, khoáng sản: dầu khí, than, sắt, cát thủy tinh…
+ Cung cấp nguồn thủy hải sản với trữ lượng lớn: tôm, cá, cua,…
+ Biển gắn liền với những giá trị thiêng liêng tâm linh và lịch sử: truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ, những chiến công lịch sử Bạch Đằng, Vân Đồn xưa, Cồn cỏ, đường huyền thoại Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ… 
+ Biển có vị trí đặc biệt quan trọng về quân sự, tạo nên nhiều khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng…
- Phê phán: những hành động của con người làm hại, ảnh hưởng đến môi trường biển như các nhà máy, xí nghiệp thải nhiều chất độc hại; con người khai thác tài nguyên biển quá mức; … (0,5đ)
- Bài học nhận thức và hành động: (1đ)
+ Biển cung cấp nguồn tài nguyên đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nhân loại nhưng biển cũng cần sự bảo vệ của con người.
+ Chúng ta cần nâng cao nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của biển, hải đảo ; cũng như tôn vinh những giá trị của nó với sự sống cộng đồng. 
+ Nâng cao trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển bền 

vững tài nguyên, môi trường biển, hải đảo.
+ Đặc biệt, trong thời điểm hiện tại cần xây dựng ý thức vươn ra biển, làm giàu từ biển trong cộng đồng người Việt Nam, từng bước khẳng định vị thế Việt Nam là một quốc gia mạnh về biển trong khu vực. Và song song với đó là xây dựng lực lượng quân sự hùng hậu đủ sức bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Câu 3: ( 5.0đ)

 

a.Yêu cầu về kĩ năng:

- Nắm vững kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích).
- Biết vận dụng, phối hợp nhiều thao tác nghị luận: giải thích, chứng minh, bình luận…
- Văn trôi chảy, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục. Không mắc lỗi diễn đạt, không sai lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp, trình bày bài rõ ràng

 

b. Về nội dung, kiến thức:  Tình cảm sâu nặng của người cha đối với con, được thể hiện trong tác phẩm “Chiếc lược ngà”

- Trước khi anh Sáu về thăm nhà: (1,0 đ)

+ Khao khát, nôn nóng muốn gặp con nên anh đau đớn khi thấy con sợ hãi bỏ chạy: “mặt anh sầm lại, trông thật đáng thương và hay tay buông xuống như bị gãy” 

- Những ngày phép :  Suốt ba ngày ở nhà: “Anh chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ về con” và khao khát “ mong được nghe một tiếng ba của con bé”, nhưng con bé chẳng bao giờ chịu gọi.(1,0 đ)

- Lúc chuẩn bị lên đường:  Phải đến tận lúc ra đi anh mới hạnh phúc vì được sống trong tình yêu thương mãnh liệt của đứa con gái dành cho mình.(1,0 đ)

 - Khi anh Sáu ở trong rừng tại khu căn cứ (ý này là trọng tâm): (1,0 đ)

+   Sau khi chia tay với gia đình, anh Sáu luôn day dứt, ân hận về việc anh đã đánh con khi nóng giận. Nhớ lời dặn của con: “ Ba về! ba mua cho con môt cây lược nghe ba!” đã thúc đẩy anh nghĩ tới việc làm một chiếc lược ngà cho con. 

+ Anh đã vô cùng vui mừng, sung sướng, hớn hở như một đứa trẻ được quà khi kiếm được một chiếc ngà voi. Rồi anh dành hết tâm trí, công sức vào làm cây lược “ anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”.“ trên sống lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”

+ khi bị viên đạn của máy bay Mỹ bắn vào ngực, lúc không còn đủ sức trăn trối điều gì, anh đã “đưa tay vào túi, móc cây lược” đưa cho bác Ba, nhìn bác Ba hồi lâu.

=> Cây lược ngà trở thành kỷ vật minh chứng cho tình yêu con thắm thiết, sâu nặng của anh Sáu, của người chiến sỹ Cách mạng với đứa con gái bé nhỏ trong hoàn cảnh chiến tranh đầy éo le, đau thương, mất mát. Anh Sáu bị hy sinh, nhưng tình cha con trong anh không bao giờ mất.(1,0 đ)

Theo thethaohangngay

Viết bình luận: Đề thi thử vào lớp 10 môn Văn - THCS Nghĩa Trung 2017

  •